Điều tra ý kiến

bạn có mối quan hệ thế nào với chủ Website ?
Bạn cũ
Người thân cũ
Học trò cũ
Đồng nghiệp
Không quen

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Tuấn Anh)
  • (Tuấn Anh 79)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    DSC000911.jpg DSC00091.jpg DSC00142.jpg FLASH1_CHAO_MUNG_NAM_HOC_MOI.swf Bt2.jpg Hinh0065.jpg Hinh0052.jpg Hinh0092.jpg Hinh0049.jpg Nguoi_yeu_dau.mp3 DSC00021.jpg Baner_1.swf 20115.swf Bang_Kieu__Ban_Tinh_Cuoi.mp3 CamLy05DatMuiCaMau.mp3 664.jpg 1213.jpg 2011AB1.swf IMG0018A.jpg

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Ảnh Đẹp

    UpAnh.com
    Gốc > Bài viết > Chia sẻ kinh nghiệm >

    “Hồn việt” hướng về Tổ quốc

    (CATP) Kỳ 2: Nỗi buồn tha hương
    Tuy sống xa Tổ quốc và bị những kẻ phản động cực đoan luôn rình rập để làm khó dễ, chèn ép, song trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại vẫn có những người công khai hướng về Tổ quốc. Trong văn thơ người Việt ở nước ngoài cũng có rất nhiều tác phẩm theo khuynh hướng đáng quý này.

    Tuổi trẻ TPHCM chụp hình lưu niệm với giáo sư Việt kiều Trần Văn Khê

    Trong vòng 15 năm đầu mới xuất hiện (1975-1990), dòng văn thơ của người Việt Nam ở nước ngoài tập trung phản ánh nỗi hoài nhớ cố hương, tâm trạng bơ vơ lạc lõng... Với chủ đề này, dòng văn thơ này đã để lại nhiều câu thơ, đoạn văn gây xúc động: “...Mẹ ơi, con muốn trở về quê/ Muốn hái hoa xuân, tắm nắng hè/ Muốn gội trăng thu rằm tháng tám/ Muốn màu tro củi đón xuân về...” (Hương quê của Nguyễn Lưu), hay “...Ở cái xã hội tứ bề lộng gió này, biết nép vào đâu cho ấm...” (Võ Phiến), “...Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo/ Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô...” (Lê Tất Điều), “... Đời di tản có nghĩa là đánh mất/ Từng ngày qua và chẳng biết về đâu/ Ta đứng ngẩn bên thềm phố lạ... quặn thắt! Xót đau!/ Khúc tình điên lưu vong...” (Phạm Vũ Anh Nam). Áp lực của cuộc mưu sinh nhọc nhằn nơi đất khách quê người để lại những kiểu “cười ra nước mắt”: “...Mai mốt anh về có thằng túm hỏi/ Mày qua bên Mỹ học được củ gì/ Ông rửa bát chén hơn bà nội trợ/ Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan/ Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió/ Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan...” (Cao Tần tức Lê Tất Điều). Hoặc “...Sợ nhất là Meister (cai thợ) mắng mỏ/ Chạy thở dồn may mà kịp chuyến xe/ Đi làm đúng giờ niềm vui nho nhỏ.../ Nghĩ lan man đến số lương sắp lãnh/ Thế là vui và mỉm cười tươi...” (Phương Nam). Ngoài thơ, văn xuôi ở chủ đề này cũng có nhiều tác phẩm đáng chú ý. Truyện ngắn “Bé Tí” của Nguyễn Xuân Quang kể về Nguyễn - một bác sĩ vượt biên sang Mỹ và “được” làm y công (hộ lý) trong một cơ sở dưỡng lão. Anh phải chăm sóc một ông già da trắng có con trai chết trận ở Việt Nam. Ông ghét Nguyễn vì nghĩ rằng anh có liên quan đến cái chết của con ông, đến cuộc đời cô đơn bất hạnh của ông. Nguyễn nhẫn nhục, chịu đựng nhưng vẫn thể hiện sự thông minh, tài hoa, đa cảm. Đọc đến đoạn tác giả mô tả Nguyễn cứ mỗi buổi trưa lại mang cơm hộp lạnh lẽo ra ngồi dưới góc trụ cờ ăn một mình, dưới những cặp mắt soi mói, coi thường của người bản xứ, đủ thấy hết nỗi khổ của người xa quê như anh đang chịu đựng. Cùng lứa bác sĩ tốt nghiệp ở Sài Gòn trước năm 1975 như Nguyễn, nhiều người ở lại Việt Nam hầu hết đều có cuộc sống thành đạt, trở thành giáo sư, tiến sĩ hoặc lãnh đạo các khoa, các bệnh viện. Họ cũng ra nước ngoài công tác, tu nghiệp, dự hội nghị và chắc chắn không ai đóng vai y công khốn khổ như Nguyễn!

    Một truyện ngắn khác, chúng tôi không còn nhớ tên truyện, tác giả, nhưng nội dung của nó vẫn đọng lại trong lòng như một nỗi buồn. Một thanh niên vượt biên sang Mỹ làm việc quần quật như điên để kiếm tiền dành dụm gửi về quê nhà cho người thân. Mười năm sau anh hồi hương, cứ tưởng gia đình mình đã khá lên nhờ “viện trợ” liên tục, kéo dài như thế. Ai ngờ, vẫn chỉ những con người gầy rộc, mái lá xiêu vẹo... Hỏi ra mới biết, bao năm nay cả nhà chỉ chờ anh gửi tiền, quà về rồi... chửi mắng, đánh nhau để giành giật. Có tiền họ lại xe xua, đánh đề, hết tiền họ lại cố rặn ra những bức thư kể khổ, xin xỏ. Họ sống trong sự lười biếng, ỉ lại cho xứng với tên gọi “gia đình có Việt kiều”! Những bức thư xin xỏ như thế làm người ở xa cứ tưởng quê nhà tận khổ, mà không biết rằng đất nước đã phát triển trong đổi mới. Nhiều người trong nước đã giàu lên hơn hẳn số bà con ở nước ngoài vẫn gửi tiền về cho họ. Nghe nói con số 5 tỷ đến hơn 8 tỷ USD Việt kiều gửi về cho thân nhân trong nước mỗi năm (trong 5 năm gần đây - TG) sao lớn lao quá. Nhưng mỗi đồng đôla ấy chất chứa biết bao nỗi buồn thân phận trên đất khách quê người!
    Truyện ngắn “Đi trong giấc mơ” của Trần Thị Kim Lan, kể về cô Linh - người Việt làm giáo viên ở một trường trung học có học trò đủ các màu da trên nước Mỹ. Ở đó cô giáo kiêm luôn nhiệm vụ thư ký, vú em, mật thám. Phải giữ hồ sơ cá nhân của từng đứa, nhắc nhở tắm gội, theo dõi chúng đi những đâu, giấu xì ke, dao, súng chỗ nào... lại nghe người Mỹ thương người Campuchia, người Hoa hơn người Việt, cô đâm ra lo sợ có ngày phải nhận mình là dân tộc khác để được thương lây... Đó cũng là một truyện ngắn hay phản ánh về quá trình hội nhập trên đất lạ của người Việt xa xứ, đầy những âu lo, khắc khoải và những tình huống bất ngờ do dị biệt về văn hóa, ngôn ngữ, màu da. Một mảng tích cực khác của văn chương người Việt sống ở nước ngoài là hoạt động không mệt mỏi của những nhóm trí thức. Họ in nhiều sách báo tuyên truyền “nói tiếng Việt, giữ văn hóa Việt” cho cộng đồng. Họ đấu tranh không khoan nhượng với những kẻ bịp bợm chuyên nhận tài trợ của ngoại bang để chống phá đất nước như Võ Văn Ái, Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Hữu Chánh... Những đối tượng cơ hội chính trị như: Bùi Tín, Vũ Thư Hiên... xuất thân từ “cộng sản”, nhưng lại “trở cờ”, “đón gió” với chiêu bài “đa nguyên, dân chủ” cũng bị họ vạch mặt bằng những lập luận sắc sảo, khoa học. Từ phương xa nhìn về Tổ quốc, họ luôn lo lắng cho vận mệnh đất nước và có những góp ý rất xác đáng, hoặc tổ chức quyên góp giúp đỡ đồng bào gặp thiên tai tại quê nhà. Vì nhiều lý do chúng tôi không tiện nêu tên, bút danh những người này trong bài viết, nhưng vẫn theo dõi các tác phẩm loại này trên các website và thầm phục trí tuệ, kiến thức uyên bác, cũng như trách nhiệm với đất nước của họ, dù họ có nhiều quan điểm chưa đồng nhất với chúng tôi.

    Tuy sống xa Tổ quốc và bị đám phản động cực đoan luôn rình rập để làm khó dễ, chèn ép, song trong cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn thường xuất hiện những người dám bày tỏ quan điểm “đối lập” với bọn xấu, công khai hướng về Tổ quốc. Trong văn thơ cũng không thiếu những hiện tượng tương tự, như Phương Nam trong bài thơ “Đi thăm đấu trường xưa trên quê hương Mác” đã viết: “...Càng yêu thương thêm những địa đạo quê nhà/ Phải nơi đây Việt Nam đã anh hùng đối chọi/ Chống bao kẻ thù của nhân loại gần xa...”. Hay như Hương Giang đã kể về một chuyện tình đẹp của anh lính xe tăng quê miền Bắc vào giải phóng Sài Gòn và một cô gái con nhà giàu ở miền Nam. Tình yêu đã làm cô gái bỏ ý định vượt biên... “Lỡ một chuyến tàu vượt biển/ Em lại kịp chuyến tàu hạnh phúc đêm nay...” (bài “Đã có một tình yêu như thế”, sáng tác tại Pháp năm 1986). Nguyễn Hồi Thủ trong bài thơ “Món quà của chị” đã nói lên tâm trạng kính yêu lãnh tụ Hồ Chí Minh: “...Chị cũng cho em/ Một tấm gạch men/ Có ảnh cụ Hồ/ ...Em đem sang Pháp/ Lúc nhớ quê hương/ Vẫn thấy cụ cười...”. Rồi truyện ngắn “Một nơi nào bình an” của Trần Hoài Thư kể về một chàng trai tên Định vừa sang định cư tại Hoa Kỳ. Chàng được dự một party quý phái, gồm toàn những “ông tướng”, “bà tá”, nghị sĩ, dân biểu, những chính khách lẫm liệt, những tiến sĩ, cao học tên tuổi thường xuất hiện trên báo chí. Những người này trước đây sống ở Sài Gòn trong những tòa nhà lớn có lính canh, lính hầu, có quyền sinh sát cả sư đoàn... Họ đạo mạo chào nhau rồi ồn ào tuyên bố “sẽ về giải phóng quê hương khỏi tay cộng sản”! Họ nốc rượu, nuốt thịt bò, hớ hênh, khoe ngực, khoe đùi... Định xô ghế đứng dậy, chạy khỏi bữa tiệc như một kẻ chạy trốn. Trong một môi trường văn học bị o ép phải “chống cộng”, có người không hề đi lính (chế độ cũ), đi cải tạo, nhưng muốn được yên thân cũng giả vờ đóng vai “nạn nhân của cộng sản” để làm thơ, viết văn cường điệu “bi kịch” để chống cộng. Với môi trường sáng tác khắc nghiệt, nguy hiểm như vậy, các tác giả như chúng tôi vừa trích dẫn ở phần trên, vẫn dám công khai tác phẩm “ngược dòng” hướng về quê hương như thế là rất dũng cảm, đáng trân trọng...

    Theo chúng tôi, văn thơ chống cộng ở hải ngoại phần lớn là tác phẩm của những người có chức phận, quyền lợi lớn trong chế độ Sài Gòn cũ. Khi đất nước được thống nhất, họ mang mặc cảm của người bại trận, lại thêm những năm tháng chính quyền cách mạng cho họ đi cải tạo. Thời kỳ đó, cả nước phải chịu khó khăn, thiếu thốn. Ngay cả “người chiến thắng” cũng khoai, bắp thay cơm dài dài, vợ con họ cũng bữa đói bữa no, áo quần vá víu. Nhưng với những người quen sống trong nhung lụa ở miền Nam trước đó, cảm giác khổ sở vì thiếu thốn sẽ tăng lên nhiều lần. Họ oán trách chế độ mới nên tìm đường vượt biên. Hiểm nguy, mất mát trên đường họ ra đi càng làm tăng thành kiến với quê hương. Ra nước ngoài, họ viết như để “xả xú-páp”. Đó là lý do có những “hồi ký cải tạo”, “thảm kịch vượt biên”, hoặc những tác phẩm lên án cấp trên cũ của họ quá bất tài, tham lam nên mới để “mất miền Nam”. Họ hăng hái chống cộng theo kiểu “trả thù đời” cũng bởi những lẽ trên, và cũng vì những thất vọng ở “đất hứa”. Họ phải chống cộng để tìm trạng thái cân bằng nơi tâm hồn mình trước cảm giác hụt hẫng, ngột ngạt của đời sống công nghiệp trên xứ lạ. Họ làm vậy cũng để được yên thân nơi xứ người và trong một cộng đồng có những kẻ luôn muốn chụp mũ  để hãm hại nhau cho bõ ghét! Thế nhưng từ trong sâu thẳm ý thức, chiến công chống ngoại xâm cũng như tấm gương nhân hậu, hy sinh của những người cộng sản đã buộc họ phải nói thật, nói đúng với suy nghĩ và lương tâm của mình. Cựu tướng Đỗ Mậu, từng mấy chục năm theo Ngô Đình Diệm chống cộng, khi về già nơi đất khách quê người, bình tâm hơn, ông đã tâm sự trên nhiều tờ báo một câu nhắn nhủ các thế hệ sau rằng: “Nghĩ tới hạnh phúc của đất nước mình ngày hôm nay, anh em phải ghi nhớ công lao của cụ Hồ Chí Minh... ”. Thế Uyên - một cây bút chống cộng rất thâm độc ở miền Nam từ trước năm 1975, trong “Hồi ký cải tạo - không ơn Thiên Sủng”, đã viết rằng: những sĩ quan chính quy từ Bắc vào quản lý liên trại Kà Tum (nơi Thế Uyên và 2000 sĩ quan chế độ cũ học tập cải tạo - TG) xử sự rất tử tế. Các “cai tù” có tiêu chuẩn thực phẩm, lương thực cũng chẳng hơn trại viên là mấy. Những trại viên được tiếp tế, thăm nuôi được no đủ hơn hẳn “cai tù”. Trong khi đó, Thế Uyên lại mô tả các trại viên - toàn cựu sĩ quan Sài Gòn, “chiến hữu của nhau thời binh lửa”, lại giành giật ghen tỵ nhau từng miếng ăn, chỗ nằm... Phan Nhật Nam, nhà văn nổi tiếng chống cộng của quân đội Sài Gòn bị cải tạo 14 năm, khi sang Mỹ đã viết: “Hai người lính... sau một lần”. Đó là câu chuyện tuy ẩn chứa những ác ý, nhưng tác giả dành nhiều cảm xúc đẹp cho một cặp vợ chồng đều là thương binh ở “bên kia chiến tuyến”. Thơ Cao Tần (Lê Tất Điều) - chống cộng từ trong nước ra hải ngoại suốt mấy mươi năm. Thế rồi đến lúc nào đó, anh ta chán chường, tuyệt vọng, tự coi những kẻ mang lý tưởng như mình là: “Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn/ Gánh sơn hà toan chất thử lên vai/ Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn/ Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai...” (bài “Ta làm gì cho hết nửa đời sau”).
    Tất cả những người cầm bút đó tuy có quá khứ chống cộng, nhưng lương tâm của những người có học, nhân cách của kẻ sĩ đã thôi thúc họ phải nói lên sự thật, dù chỉ một phần, dù muộn màng. Đối với những nhà văn đã từng được về thăm và chứng kiến sự thay đổi ở quê hương trong công cuộc đổi mới, nhận thức của họ càng chuyển biến rất nhanh. Chúng ta tin rằng, những người này rồi sẽ lần lượt, dần hồi tìm về với quê hương ruột thịt và cội nguồn của dân tộc mình.
    (Còn tiếp)


    CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỚI KIỀU BÀO
    Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng đến tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết dân tộc. Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc và truyền thống dân tộc Việt Nam. Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc...

     
      PHÚC HUY

    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Tuấn Anh @ 11:50 25/04/2010
    Số lượt xem: 1026
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chào mừng quý vị đến với Website của thầy Phạm Tuấn Anh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.